Khắc phục một số rào cản khi thực hiện mô hình đồng giảng

17/06/2026

          Trong giai đoạn hiện nay, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đang đứng trước những yêu cầu ngày càng cao, đòi hỏi phải có những đổi mới mang tính đột phá. Trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương 2 cấp đòi hỏi người cán bộ không chỉ nắm vững nguyên lý lý thuyết, mà phải có tư duy phản biện sắc bén và khả năng vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cơ sở. Trước những vấn đề đặt ra đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị bộc lộ một số hạn chế như: Phương pháp giảng dạy còn nặng về thuyết trình một chiều, học viên còn thụ động trong tiếp nhận tri thức, việc truyền đạt kiến thức chung chưa thực sự nhuần nhuyễn với thực tiễn xử lý các tình huống ở cơ sở…

          Để khắc phục những hạn chế nêu trên, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã có chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy theo mô hình đồng giảng, đồng sáng tạo tri thức. Mỗi buổi giảng bố trí 02 giảng viên. Trong đó, giảng viên thứ nhất tham gia chính về nội dung và phương pháp giảng dạy; giảng viên thứ hai hỗ trợ giảng viên thứ nhất nội dung và các hoạt động trên lớp theo sự phân công của giảng viên thứ nhất. Đây là hình thức giảng dạy có sự tham gia của 02 hoặc nhiều giảng viên cùng phối hợp thiết kế, điều phối lớp học; đồng thời đặt học viên vào trung tâm để họ tự tranh luận, phản biện và chủ động tham gia kiến tạo tri thức mới thông qua các tình huống thực tiễn.

          Là trung tâm đào tạo cán bộ của tỉnh, Trường Đào tạo cán bộ Nguyễn Văn Cừ luôn đi tiên phong trong việc tìm kiếm và ứng dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến. Nhà trường có đội ngũ giảng viên tâm huyết, có trình độ chuyên môn cao cùng cơ sở vật chất khang trang, hiện đại. Đây là những tiền đề thuận lợi để áp dụng các mô hình giáo dục hiện đại. Quá trình này cũng nảy sinh những rào cản từ cả khách quan và chủ quan, nếu không nhận diện và tháo gỡ kịp thời sẽ làm giảm động lực đổi mới của giảng viên, khiến mô hình đồng giảng chỉ dừng lại ở mức độ thử nghiệm mang tính hình thức.

Giảng viên Khoa Nhà nước và Pháp luật triển khai thực hiện đồng giảng

          Thứ nhất, rào cản từ phía giảng viên: Rào cản lớn nhất đối với đội ngũ giảng viên chính là áp lực tâm lý xuất phát từ sự thay đổi thói quen đứng lớp độc lập truyền thống. Nhiều năm qua, giảng viên đã quen với việc làm chủ hoàn toàn không gian lớp học đơn phương, tự quyết định tiến trình bài giảng. Khi chuyển sang mô hình đồng giảng, việc xuất hiện đồng nghiệp cùng trình độ, thậm chí là cấp trên chuyên môn trực tiếp tại lớp học vô hình trung tạo ra một tâm lý “bị giám sát” hoặc “bị dự giờ”. Nỗi lo lắng bộc lộ những khoảng trống về tri thức thực tiễn, sự lúng túng trong kỹ năng sư phạm hiện đại hoặc những sơ hở trong quá trình phản biện trước học viên luôn là bóng đen tâm lý đè nặng. Bên cạnh đó, việc thực hiện mô hình đồng giảng không thể chỉ dùng giáo án cá nhân sẵn có, mà đòi hỏi các giảng viên cùng nhau rà soát giáo án, trao đổi, thống nhất nội dung, phân vai điều phối và dự báo các tình huống tranh luận của học viên. Áp lực chuẩn bị bài phối hợp này tạo ra một rào cản hành vi mang tính phòng thủ, giảng viên có xu hướng chọn giải pháp an toàn để giảm thiểu tối đa rủi ro phát sinh tranh luận ngoài tầm kiểm soát khi đứng lớp chung.

          Thứ hai, rào cản từ phía cơ chế, quản lý: Có thể nhận thấy các quy chế quản lý và đào tạo hiện hành tại hệ thống trường chính trị liên quan đến định mức giờ giảng của giảng viên chưa có sự thay đổi khi triển khai mô hình đồng giảng, khung pháp lý hành chính chưa có quy định cụ thể để triển khai thực hiện hoặc áp dụng hệ số khuyến khích cho cả hai người cùng đứng lớp. Bên cạnh đó, khung chương trình đào tạo trung cấp lý luận chính trị được quy định rất chặt chẽ về mặt thời gian và phân phối chương trình. Các bài học được thiết kế theo tiến trình thời gian, phân định rõ số tiết lý thuyết và thảo luận công khai giữa hai giảng viên. Việc triển khai đồng giảng sẽ làm tăng khối lượng các giờ giảng, trong khi Quy chế quản lý đào tạo và các quy định về tài chính liên quan đến thanh toán vượt giờ hiện hành tại các trường chính trị chưa có tiền lệ cho việc chi trả thù lao cho hai giảng viên đứng lớp song song trong cùng một giờ học.

          Thứ ba, rào cản từ phía học viên: Đối tượng người học tại trường chính trị tỉnh là cán bộ, công chức, viên chức đương chức hoặc diện quy hoạch cấp ủy cơ sở, lãnh đạo quản lý cấp phòng và tương đương của các sở, ban, ngành và địa phương thuộc tỉnh. Họ đến lớp mang theo những áp lực, chi phối nhất định công việc chuyên môn ở cơ quan, dẫn đến trạng thái phân tâm, có xu hướng thụ động ngồi nghe giảng độc thoại để chép bài, ghi nhớ máy móc các kết luận có sẵn nhằm vượt qua kỳ thi cuối khóa một cách an toàn nhất thay vì chịu áp lực phải tư duy, động não hoặc tham gia tranh luận mở trong không gian kiến tạo.

          Hơn thế nữa, sự chênh lệch về độ tuổi, vị trí công tác và vốn sống thực tiễn trong cùng một lớp học trung cấp lý luận chính trị tạo ra khoảng cách nhất định trong việc đồng kiến tạo tri thức. Có những học viên là lãnh đạo chủ chốt cơ sở giàu kinh nghiệm xử lý tình huống thực tế. Song bên cạnh họ cũng lại có những học viên là công chức trẻ, thiếu kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn khi tham gia thảo luận, giải quyết các tình huống. Sự phân hóa này khiến các cặp giảng viên đồng giảng gặp  khó khăn trong thiết kế các tình huống thảo luận với tiếu chí phù hợp với hầu hết học viên…

          Thứ tư, rào cản về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật: Rào cản cuối cùng nhưng trực tiếp ảnh hưởng đến tính khả thi của mô hình đồng giảng, kiến tạo tri thức nằm ở hạ tầng không gian lớp học. Mặc dù Trường Đào tạo cán bộ Nguyễn Văn Cừ đã được tỉnh đầu tư cơ sở vật chất khang trang, đồng bộ, tuy nhiên phần lớn thiết kế kiến trúc bên trong các giảng đường vẫn mang đậm dấu ấn của tư duy giáo dục truyền thống. Hệ thống bàn ghế học viên thường được cố định theo dãy và bố trí quay mặt đồng loạt về phía bục giảng của giảng viên. Cấu trúc không gian tuyến tính này chỉ tối ưu hóa cho việc truyền thụ một chiều, nghe nhìn thụ động và ngăn cản mọi sự tương tác đa chiều. Khi triển khai đồng giảng theo các mô hình hiện đại cấu trúc phòng học này ngay lập tức bộc lộ sự bất cập lớn. Bên cạnh đó, các trang thiết bị hỗ trợ dạy học thông minh như bảng tương tác đa điểm, hệ thống máy chiếu độc lập cho từng nhóm nhỏ hoặc hạ tầng mạng không dây tốc độ cao để học viên truy cập, tra cứu tài liệu số trực tiếp tại chỗ vẫn chưa được phủ sóng đồng bộ tại tất cả các phòng học. Sự thiếu hụt về mặt công nghệ và hạ tầng di động này đã vô hình trung bó hẹp khả năng sáng tạo của các cặp đồng giảng, khiến họ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình triển khai.

          Để mô hình đồng giảng, đồng kiến tạo tri thức theo quy định của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thực sự phát huy hiệu quả và tránh hình thức tại trường Đào tạo cán bộ Nguyễn Văn Cừ, cần triển khai một số giải pháp sau:

          Trước hết, đội ngũ giảng viên cần có tư duy đổi mới sáng tạo, dũng cảm bước ra khỏi vùng an toàn của phương thức “độc thoại” truyền thống, chủ động xóa bỏ tâm lý phòng thủ hay cảm giác “bị giám sát” khi có đồng nghiệp đứng lớp chung. Cần xác lập một tư duy hợp tác bình đẳng, xem người đồng giảng là cộng sự để cùng nâng đỡ và bổ trợ chuyên môn cho nhau. Sự chủ động này phải được cụ thể hóa bằng hành động phối hợp nghiêm túc trước mỗi giờ lên lớp thông qua việc các cặp giảng viên cùng ngồi với nhau để nghiên cứu kỹ lưỡng bài giảng, chủ động phân vai dựa trên thế mạnh trường vốn của từng người, từ đó xây dựng một kịch bản tương tác khoa học với các tín hiệu “tung hứng” nhịp nhàng để điều phối lớp học.

          Trong quá trình giảng dạy trên lớp, nhằm thích ứng với đối tượng người học là cán bộ, công chức có kinh nghiệm thực tiễn phong phú, giảng viên phải tự nâng cao năng lực sư phạm hiện đại, chuyển dịch từ vai trò truyền thụ tri thức sang vai trò người thiết kế và điều phối không gian tương tác. Đồng thời, giảng viên cũng cần tích cực đi thực tế tại cơ sở để làm giàu vốn sống, phối hợp thiết kế các tình huống thảo luận có độ khó phân tầng nhằm lôi cuốn mọi đối tượng học viên tham gia phản biện. Cuối cùng, ngay sau khi kết thúc buổi giảng, các cặp giảng viên phải dành thời gian để đối thoại thẳng thắn, chỉ rõ những điểm chưa ăn ý và thống nhất phương án sửa đổi ngay cho buổi giảng tiếp theo.

          Thứ hai, các khoa chuyên môn cần tăng cường các hoạt động dự giờ, sinh hoạt chuyên môn, tổ chức các hội thảo, tọa đàm, sinh hoạt chuyên môn nhằm tạo ra diễn đàn để giảng viên chia sẻ, học hỏi lẫn nhau, xóa bỏ tâm lý e ngại khi thực hiện mô hình đồng giảng. Việc tháo gỡ tâm lý và nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên là giải pháp mang tính nền tảng nội lực, giúp tạo sự an tâm tuyệt đối cho người đứng lớp khi bước ra khỏi vùng an toàn.

          Thứ ba, đối với Nhà trường cần chủ động lựa chọn, xây dựng đội ngũ giảng viên đồng giảng là những giảng viên giỏi về lý luận và thực tiễn, có phương pháp sư phạm, đảm bảo mỗi phần học phải có tối thiểu một cặp giảng viên đồng giảng mẫu. Xây dựng mẫu giáo án phù hợp, hướng tới xây dựng ngân hàng giáo án mẫu của từng bài giảng để giảng viên tham khảo, giảm tải công sức chuẩn bị. Tăng cường mở các lớp tập trung tại trường để khắc phục các điều kiện về cơ sở vật chất và thiếu hụt đội ngũ giảng viên. Quan tâm đầu tư, nâng cấp trang thiết bị dạy học; bố trí không gian lớp học linh hoạt, phù hợp với quy mô lớp nhỏ và yêu cầu tổ chức thảo luận nhóm, học tập tích cực; bảo đảm hạ tầng công nghệ phục vụ dạy học.

          Nghiên cứu, làm rõ cơ chế phối hợp giữa giảng viên lý luận gắn với chuyên gia thực tiễn tại địa phương, đảm bảo bài giảng vừa sâu sắc về lý luận, vừa sinh động về thực tiễn. Tổ chức các hoạt động tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm thực hiện mô hình đồng giảng giữa các trường chính trị, tạo diễn đàn, môi trường học tập lẫn nhau.

          Chủ động đề xuất, kiến nghị Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tăng cường công tác tập huấn, hướng dẫn thực hiện mô hình đồng giảng để thực hiện thống nhất trong hệ thống trường chính trị.

          Thứ tư, các cấp có thẩm quyền cần xây dựng cơ chế đánh giá đồng giảng riêng (không đánh giá riêng từng giảng viên mà đánh giá cặp đôi) và cơ chế khen thưởng chung để khuyến khích đội ngũ giảng viên. Cần tập trung vào việc tạo đột phá cơ chế quản lý, tài chính và đánh giá nhằm tạo đòn bẩy hệ thống vững chắc. Trước hết, nhà trường cần sửa đổi Quy chế chi tiêu nội bộ liên quan đến việc tính định mức giờ giảng cho các tiết đồng giảng. Song song với đó, cần giao quyền tự chủ tối đa cho Trưởng các khoa chuyên môn trong việc chủ động điều phối lịch giảng dạy, ghép lớp hoặc tách nhóm học viên, cho phép linh hoạt hoán đổi vị trí các bài học trong khung chương trình để tối ưu hóa quỹ thời gian phối hợp của các cặp đồng giảng mà không làm đảo lộn tiến độ chung.

          Mô hình đồng giảng, đồng kiến tạo tri thức không đơn thuần là một kỹ thuật sư phạm mới, mà là một cuộc cách mạng về tư duy quản lý và giảng dạy tại trường chính trị. Việc tháo gỡ thành công những rào cản bằng hệ thống giải pháp đồng bộ từ cơ chế, con người cho đến hạ tầng sẽ là chìa khóa vàng giúp nhà trường không chỉ đạt chuẩn mức 2, mà còn khẳng định vị thế một trung tâm đào tạo cán bộ năng động, sáng tạo. Đây chính là bước đi chiến lược góp phần nâng cao toàn diện chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng hoàn hảo yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội bền vững của địa phương và đất nước trong kỷ nguyên mới./.

Trần Thị Thu Trang, Khoa Nhà nước và Pháp luật