Quảng Ninh đang đứng trước một dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển khi chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới hành chính hiện nay của tỉnh đang được triển khai theo đúng lộ trình. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về địa vị hành chính, mà mở ra yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ hơn về mô hình tăng trưởng, tổ chức không gian phát triển, phương thức quản trị và chất lượng sống của Nhân dân. Tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy ngày 17/8/2026, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhận định: “Quảng Ninh giống như một Việt Nam thu nhỏ”, đồng thời khẳng định tỉnh có nhiều điều kiện để tiếp tục giữ vai trò tiên phong và trở thành hình mẫu để các địa phương trong cả nước học tập. Nhận định đó gợi mở một vấn đề lớn: hành trình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương không chỉ là hành trình đạt chuẩn, mà cần trở thành quá trình kiến tạo những chuẩn mực phát triển mới.

Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh ngày 17/8/2026.
Nguồn ảnh: baouangninh.vn
- “Việt Nam thu nhỏ” – nền tảng đặc thù để Quảng Ninh bước vào một giai đoạn phát triển mới
Nhận định “Quảng Ninh giống như một Việt Nam thu nhỏ” trước hết bắt nguồn từ tính đa dạng, đặc thù hiếm có của địa phương. Trên diện tích hơn 6.231km² cùng tồn tại miền núi, biển, đảo, biên giới; đô thị, nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; công nghiệp, dịch vụ, du lịch, kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu và nông nghiệp. Quảng Ninh vừa là địa bàn công nghiệp quan trọng, vừa sở hữu Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, hệ thống di sản văn hóa phong phú và vị trí cửa ngõ kết nối Việt Nam với Trung Quốc, khu vực Đông Bắc Á.
Giá trị của một “Việt Nam thu nhỏ” không chỉ nằm ở sự đa dạng về địa hình hay cơ cấu kinh tế – xã hội. Quan trọng hơn, trên địa bàn Quảng Ninh cùng hiện diện nhiều mối quan hệ lớn của quá trình phát triển: giữa công nghiệp hóa với bảo vệ môi trường; giữa đô thị và nông thôn; giữa tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững; giữa khai thác nguồn lực với bảo tồn di sản; giữa hội nhập kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữa phát triển các trung tâm động lực với thu hẹp khoảng cách vùng miền. Chính đặc điểm đó tạo điều kiện để Quảng Ninh không chỉ phát triển toàn diện mà còn trở thành không gian nghiên cứu, thử nghiệm những mô hình và cách làm mới, như đồng chí Trịnh Văn Quyết đã nhấn mạnh.
Thực tiễn những năm qua cho thấy tỉnh đã từng bước chuyển hóa lợi thế tự nhiên và vị trí địa kinh tế thành nguồn lực phát triển; chuyển từ mô hình tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên sang cơ cấu kinh tế đa dạng hơn, từ không gian phát triển phân tán sang tăng cường liên kết và từ dựa nhiều vào đầu tư công sang huy động mạnh các nguồn lực xã hội.
Những kết quả đạt được tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Sáu tháng đầu năm 2026, GRDP của Quảng Ninh tăng 11,11%, xếp thứ tư cả nước; tổng thu ngân sách nhà nước trong 07 tháng đạt 68.282 tỷ đồng, tăng 89% so với cùng kỳ. Cùng với đó, tỉnh dành 1.870 tỷ đồng cho an sinh xã hội, tăng 47,2% so với cùng kỳ năm 2025. Các con số cho thấy tăng trưởng kinh tế ngày càng được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ hơn với bảo đảm an sinh, phúc lợi và tiến bộ xã hội.
Quá trình tổ chức lại không gian đô thị cũng tạo thêm nền tảng cho bước phát triển mới. Sau sắp xếp, Quảng Ninh có 54 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 30 phường, 22 xã và 2 đặc khu. Theo Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương, thành phố được đề xuất thành lập trên cơ sở nguyên trạng tỉnh Quảng Ninh, với diện tích tự nhiên 6.231,27km², quy mô dân số 1.523.400 người; đồng thời đáp ứng đầy đủ 7/7 tiêu chuẩn thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định. Cùng với đó, hệ thống cao tốc Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long – Vân Đồn – Móng Cái, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, hệ thống cảng biển, cửa khẩu và các trục giao thông liên vùng đã từng bước hình thành mạng lưới giao thông đa phương thức, tăng cường kết nối nội tỉnh, liên vùng và quốc tế, qua đó mở rộng không gian phát triển của Quảng Ninh.
Một nguồn lực đặc biệt khác là văn hóa và con người Quảng Ninh. Truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” của vùng Mỏ, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường; bản sắc các cộng đồng dân tộc cùng hệ thống di sản phong phú tạo nên tầng sâu văn hóa cho phát triển. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các địa phương ngày càng chuyển từ tài nguyên và chi phí sang chất lượng thể chế, nhân lực, môi trường sống và sức hấp dẫn văn hóa, nguồn lực này càng có ý nghĩa chiến lược.
Bởi vậy, “Việt Nam thu nhỏ” cần được nhìn nhận không chỉ như một lợi thế sẵn có mà còn như một trách nhiệm phát triển. Nếu giải quyết tốt các mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường, tăng trưởng và công bằng, hiện đại và bản sắc, đô thị động lực và vùng khó khăn, Quảng Ninh có thể tạo ra những kinh nghiệm thực tiễn có giá trị tham khảo rộng hơn.
- Từ “đạt chuẩn” thành phố trực thuộc Trung ương đến yêu cầu “tạo chuẩn” phát triển mới
Ngày 07/4/2026, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 20-KL/TW, đồng ý chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới hành chính tỉnh Quảng Ninh. Định hướng được xác định là xây dựng đô thị xanh, văn minh, hiện đại, giàu bản sắc; tích hợp đô thị, biển, đảo, biên giới, di sản thành một hệ sinh thái phát triển; chuyển từ tổ chức không gian phân tán sang đa trung tâm, mở và liên kết.
Cụ thể hóa chủ trương này, ngày 01/6/2026, Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XV thông qua Nghị quyết tán thành chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trên cơ sở nguyên trạng địa giới hành chính hiện nay. Ngày 27/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 202/NQ-CP thông qua hồ sơ Đề án để tiếp tục hoàn thiện, trình cấp có thẩm quyền theo quy định. Như vậy, mục tiêu xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương đã chuyển từ định hướng chiến lược sang quá trình chính trị – pháp lý cụ thể.
Tuy nhiên, ý nghĩa của quá trình này không chỉ nằm ở thay đổi địa vị hành chính. Một thành phố trực thuộc Trung ương trước hết phải thể hiện một trình độ phát triển mới. Nếu giai đoạn chuẩn bị đặt ra yêu cầu đáp ứng các tiêu chuẩn về dân số, diện tích, đô thị hóa và trình độ phát triển kinh tế – xã hội, thì giai đoạn tiếp theo đòi hỏi Quảng Ninh tạo ra những giá trị tương xứng với vị thế mới.
Điều đó đặt ra sự chuyển đổi từ tư duy “đạt chuẩn” sang “tạo chuẩn”. “Đạt chuẩn” thể hiện việc đáp ứng các điều kiện theo quy định; còn “tạo chuẩn” là khả năng kiến tạo những mô hình quản trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường có chất lượng cao, có giá trị tham khảo và khả năng lan tỏa.
Đây cũng là chiều sâu trong đánh giá của đồng chí Trịnh Văn Quyết khi khẳng định: “Quảng Ninh đã giữ được nhịp tăng trưởng cao, đồng thời từng bước chuyển tăng trưởng phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu; đi trước một bước trong đổi mới thể chế, tổ chức bộ máy, cải cách hành chính và chủ động đề xuất, triển khai những mô hình mới từ thực tiễn”.
Nhận định trên đồng thời đặt ra yêu cầu: lợi thế tiên phong trong giai đoạn mới không thể chỉ dựa vào những thành tựu đã đạt được. Một địa phương càng phát triển thì thước đo càng phải cao hơn. Với kinh tế, vấn đề không chỉ là tốc độ tăng trưởng mà còn là chất lượng và động lực tăng trưởng; với đô thị hóa, không chỉ là quy mô mà còn là chất lượng đô thị và chất lượng sống; với chính quyền số, không chỉ là số lượng dịch vụ trực tuyến mà quan trọng hơn là mức độ thuận tiện, minh bạch và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Vì vậy, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương không phải điểm kết thúc của quá trình phấn đấu, mà là điểm khởi đầu cho một chuẩn phát triển cao hơn, nơi vị thế mới phải được khẳng định bằng chất lượng phát triển và năng lực kiến tạo những giá trị mới.
- Kiến tạo hình mẫu phát triển mới – những chuyển đổi có tính nền tảng
Để hiện thực hóa khát vọng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương và xa hơn là hình mẫu phát triển mới, Quảng Ninh cần tiếp tục tạo ra những chuyển đổi về chất trong mô hình phát triển.
3.1. Từ ưu tiên tốc độ sang kết hợp hài hòa tốc độ với chất lượng tăng trưởng
Tăng trưởng cao là điều kiện quan trọng để mở rộng nguồn lực phát triển, nhưng trong giai đoạn mới, chất lượng tăng trưởng phải trở thành tiêu chí trung tâm. Đồng chí Trịnh Văn Quyết đã lưu ý, cùng với duy trì tốc độ tăng trưởng, Quảng Ninh cần “đặc biệt quan tâm chất lượng tăng trưởng và chất lượng phát triển”.
Điều đó đòi hỏi tiếp tục giảm sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng; gia tăng đóng góp của năng suất lao động, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao. Công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, logistics, kinh tế biển, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn cần trở thành những động lực ngày càng rõ nét.
Đối với du lịch, yêu cầu không chỉ là tăng số lượng khách mà phải nâng giá trị tạo ra từ mỗi lượt khách, kéo dài thời gian lưu trú và phát triển các sản phẩm đặc sắc. Từ địa phương giàu tài nguyên du lịch, Quảng Ninh cần chuyển mạnh sang năng lực sáng tạo và gia tăng giá trị từ tài nguyên du lịch.
3.2. Từ tỷ lệ đô thị hóa cao sang chất lượng đô thị và chất lượng sống cao
Đô thị hóa chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành chất lượng sống của Nhân dân. Vì vậy, bước phát triển tiếp theo phải thể hiện ở giao thông thuận tiện, không gian xanh, môi trường trong lành, hạ tầng xã hội đồng bộ, dịch vụ công chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa ngày càng tốt hơn.
Đặc điểm địa lý trải dài khiến Quảng Ninh khó phù hợp với mô hình đô thị tập trung vào một lõi duy nhất. Định hướng hệ sinh thái đa trung tâm, mở và liên kết theo Kết luận số 20-KL/TW vì vậy có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, “đa trung tâm” không đồng nghĩa với phân tán nguồn lực. Mỗi khu vực cần phát huy chức năng, lợi thế riêng nhưng phải được kết nối trong một hệ thống thống nhất về hạ tầng, dữ liệu, dịch vụ công và chuỗi giá trị. Theo cách tiếp cận đó, biển, đảo, biên giới và di sản không phải không gian ngoại vi mà trở thành những cấu phần hữu cơ của thành phố Quảng Ninh trong tương lai.
Quan trọng hơn, thành quả của tăng trưởng và đô thị hóa phải được chuyển hóa thành đời sống tốt hơn cho người dân. Bảy tháng đầu năm 2026, tỉnh dành 1.870 tỷ đồng cho an sinh xã hội, tăng 47,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu cần tiến xa hơn từ bảo đảm an sinh đến nâng cao toàn diện chất lượng sống, tạo cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở, dịch vụ thiết yếu và không gian văn hóa có chất lượng. Đặc biệt, phải bảo đảm người dân miền núi, biên giới, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số được thụ hưởng đầy đủ thành quả của đô thị hóa và chuyển đổi số. Bởi vậy, chất lượng đô thị phải được đo không chỉ bằng những gì thành phố tạo ra mà còn bằng những gì người dân thực sự được thụ hưởng.
3.3. Từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển dựa trên dữ liệu và phục vụ người dân
Vị thế mới đòi hỏi năng lực quản trị tương xứng. Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu này càng rõ nét khi xã, phường và đặc khu trực tiếp giải quyết ngày càng nhiều công việc liên quan đến người dân và doanh nghiệp.
Chuyển đổi số vì thế không thể chỉ dừng ở số hóa thủ tục hành chính mà phải hướng tới năng lực quản trị dựa trên dữ liệu. Dữ liệu về dân cư, đất đai, quy hoạch, giao thông, môi trường, du lịch, y tế, giáo dục cần được kết nối, phân tích để hỗ trợ ra quyết định, dự báo và phân bổ nguồn lực. Trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới cần được ứng dụng vào những bài toán cụ thể như điều hành giao thông, cảnh báo thiên tai, giám sát môi trường, quản lý quy hoạch và cung cấp dịch vụ công. Khi đó, công nghệ trở thành công cụ giảm chi phí xã hội, tăng tính minh bạch và nâng cao chất lượng phục vụ.
Cùng với công nghệ, yếu tố con người có ý nghĩa quyết định. Thành phố thông minh trước hết cần một bộ máy có năng lực quản trị thông minh; đội ngũ cán bộ, công chức phải có khả năng sử dụng dữ liệu, thích ứng công nghệ, phối hợp liên ngành và xử lý hiệu quả những vấn đề mới từ thực tiễn.
3.4. Từ lợi thế văn hóa, di sản sang sức mạnh nội sinh và sức mạnh mềm
Một chỉ đạo đáng chú ý của đồng chí Trịnh Văn Quyết tại cuộc làm việc ngày 17/8/2026 là: “Văn hóa phải được coi là nguồn lực nội sinh”; đồng thời yêu cầu đầu tư mạnh hơn cho công nghiệp văn hóa, xây dựng hệ giá trị văn hóa, con người và phát huy sức mạnh mềm của địa phương.
Đây là gợi mở có ý nghĩa chiến lược. Tài nguyên khoáng sản là hữu hạn, nhưng văn hóa, tri thức và sức sáng tạo của con người có khả năng tái tạo, gia tăng giá trị. Vịnh Hạ Long, Yên Tử, Bạch Đằng, thương cảng Vân Đồn, văn hóa vùng Mỏ, truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” cùng bản sắc các cộng đồng dân tộc không chỉ là những giá trị cần bảo tồn mà còn là nguồn lực cho du lịch văn hóa, công nghiệp sáng tạo, giáo dục lịch sử và xây dựng thương hiệu Quảng Ninh.
Vấn đề đặt ra là chuyển từ tư duy “sở hữu di sản” sang “kiến tạo giá trị từ di sản”. Phát triển kinh tế di sản phải tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn; du lịch phải góp phần nâng cao đời sống cộng đồng; công nghiệp văn hóa phải tạo ra sản phẩm mới nhưng vẫn giữ được bản sắc. Khi được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ, môi trường sống và hình ảnh địa phương, văn hóa mới thực sự trở thành sức mạnh nội sinh và sức mạnh mềm của phát triển.
3.5. Từ chủ trương đúng đến năng lực tổ chức thực hiện hiệu quả
Đồng chí Trịnh Văn Quyết cũng yêu cầu Quảng Ninh tập trung giải quyết “điểm nghẽn lớn nhất là khâu tổ chức thực hiện”. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định, bởi một chiến lược đúng chỉ tạo ra giá trị khi được chuyển hóa thành chương trình, dự án và kết quả cụ thể.
Do đó, cùng với xây dựng tầm nhìn, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân công trách nhiệm, phối hợp liên ngành, kiểm tra, giám sát và đánh giá dựa trên kết quả. Quá trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương càng đòi hỏi giữ vững đoàn kết, thống nhất; nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, trách nhiệm, tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung, đồng thời phát huy sự đồng thuận và tham gia thực chất của Nhân dân.
Khi đó, lợi thế của Quảng Ninh sẽ không chỉ nằm ở tài nguyên, vị trí hay kết cấu hạ tầng mà còn được khẳng định bằng năng lực biến chủ trương thành kết quả, biến tiềm năng thành giá trị phát triển thực tế. Đây chính là điều kiện quan trọng để Quảng Ninh không chỉ đạt vị thế mới mà còn từng bước kiến tạo một hình mẫu phát triển mới.
KẾT LUẬN
Hành trình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương mở ra cho Quảng Ninh một không gian phát triển mới, đồng thời đặt ra những chuẩn mực cao hơn. Mục tiêu vì thế không nên chỉ dừng ở việc đáp ứng các tiêu chí của một thành phố trực thuộc Trung ương, mà phải hướng tới xây dựng một mô hình phát triển nhanh, xanh, hiện đại, giàu bản sắc và lấy con người làm trung tâm.
Từ một “Việt Nam thu nhỏ”, nếu tiếp tục chuyển mạnh từ đạt chuẩn sang tạo chuẩn, từ tốc độ sang chất lượng, từ quản lý sang quản trị phát triển, Quảng Ninh có cơ sở để hiện thực hóa khát vọng lớn hơn: không chỉ trở thành thành phố trực thuộc Trung ương mà còn từng bước trở thành hình mẫu phát triển có giá trị tham khảo cho cả nước.
ThS. Tô Thị Thanh Lê, Khoa Nhà nước và pháp luật
————————————
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Chính trị (2026), Kết luận số 20-KL/TW, ngày 07/4/2026 về chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới hành chính tỉnh Quảng Ninh.
- Chính phủ (2026), Nghị quyết số 202/NQ-CP ngày 27/7/2026 thông qua hồ sơ Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương.
- HĐND tỉnh Quảng Ninh (2026), Nghị quyết 18/NQ-HĐND ngày 01/6/2026 cho ý kiến về việc thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương.
- Báo Quảng Ninh (2026), Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết: Quảng Ninh có nhiều điều kiện để trở thành hình mẫu cho cả nước, ngày 17/8/2026. Link bài viết: https://baoquangninh.vn/truong-ban-tuyen-giao-trung-uong-trinh-van-quyet-quang-ninh-co-nhieu-dieu-kien-de-tro-thanh-hinh-mau-post3418485.html.
- Tỉnh ủy Quảng Ninh (2026), Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới hành chính tỉnh Quảng Ninh.






